Thứ Bảy, 14 tháng 12, 2019

Muôn kiểu trục lợi bảo hiểm y tế, đề xuất sửa đổi Luật sau 5 năm thực hiện

Ngày 12/12, tại Hà Nội đã diễn ra Hội nghị tổng kết 5 năm thực hiện Luật Bảo hiểm Y tế tuổi 2015-2019 và xin quan điểm dự thảo Luật Bảo hiểm Y tế sửa đổi.

TS. Lê Văn Khảm - Vụ trưởng Vụ BHYT cho biết, sau 5 năm triển khai thực hành Luật BHYT, số người tham gia BHYT ngày càng gia tăng. Tính đến 31/12/2018, toàn quốc có trên 83,5 triệu người tham dự BHYT, đạt tỉ lệ che BHYT là 88,5% dân số, vượt chỉ tiêu Thủ tướng giao tại Quyết định số 1167/QĐ-TTg ngày 28/6/2016 là 3,3% (vượt chỉ tiêu quyết nghị số 68/2013/QH13 ngày 29/11/2013 giao, đến năm 2020 đạt ít nhất 80% dân số tham gia BHYT).

Tuy nhiên, tình trạng lạm dụng, sử dụng quá mức cần thiết dịch vụ y tế - thậm chí là trục lợi BHYT vẫn đã và tiếp chuyện là một thách thức. Một số hình thức lạm dụng dịch vụ y tế như: Áp giá tính sổ dịch vụ kỹ thuật, thống kê tổng hợp các phí tổn sai quy định như thống kê trùng các dịch vụ kỹ thuật, vật tư y tế, hóa chất đã có trong cơ cấu giá.

Cung cấp dịch vụ kỹ thuật y tế không bảo đảm tính pháp lý: người thực hiện chưa có chứng chỉ hành nghề hoặc hành nghề không đúng phạm vi chuyên môn ghi trong chứng chỉ hành nghề, dịch vụ kỹ thuật chưa được cấp có thẩm quyền chuẩn y. thực hiện dịch vụ kỹ thuật cho người bệnh không đúng quy trình chuyên môn do Bộ Y tế ban hành.

Bệnh nhân đăng ký khám BHYT. Ảnh minh họa.

Một kiểu lạm dụng dịch vụ BHYT nữa là chỉ định thực hiện dịch vụ kỹ thuật (xét nghiệm cận lâm sàng, X-quang, dò xét chức năng) quá mức cấp thiết, không hợp với tình trạng bệnh.

thực hành mua sắm vật tư y tế, hóa chất sử dụng cho các dịch vụ kỹ thuật không đúng quy định của pháp luật. Có trường hợp đề nghị người bệnh phải tự chi trả tổn phí thuốc đã có trong danh mục BHYT nhưng đơn vị không cung cấp được do công tác đấu thầu, mua sắm.

Chỉ định người bệnh vào điều trị nội trú khi tình trạng bệnh không cần thiết phải điều trị nội trú hoặc kéo dài ngày điều trị nội trú. Lợi dụng chính sách thông tuyến tổ chức các hình thức quảng cáo, khuyến mại để thu dung nhiều người có thẻ BHYT đến khám chữa bệnh để tăng nguồn thu cho bệnh viện. Người bệnh đi KCB nhiều nơi trong một thời gian ngắn, mượn thẻ BHYT của người khác đi KCB....

Bên cạnh đó, trong quá trình thực hiện Luật, một số khó khăn, vướng mắc và vấn đề mới phát sinh đòi hỏi phải sửa đổi để hạp với thực tế.

Sẽ tách cơ quan thẩm định BHYT khỏi Bảo hiểm tầng lớp?

Một trong những nội dung trong dự thảo Luật BHYT sửa đổi lần này là về vấn đề tổ chức hệ thống và Hội đồng tham mưu Quốc gia. Trong đó, đề xuất thành lập cơ quan thẩm định BHYT độc lập, tách khỏi cơ quan BHXH bây chừ. Nội dung, cách thức, quy trình, tiêu chí nhận định kết quả, tiêu chuẩn giám định viên do Bộ Y tế ban hành. (Hoặc vẫn giữ như hiện thời nhưng Bộ Y tế quy định nội dung, cách thức, quy trình, tiêu chí nhận định kết quả, tiêu chuẩn thẩm định viên).

Bộ Y tế cũng đề xuất thành lập Hội đồng tham mưu nhà nước, quy định cụ thể về số lượng thành viên, thành phần (đại diện các bên liên tưởng), quy định nhiệm vụ của Hội đồng. Chính phủ quy định chi tiết quy chế hoạt động của Hội đồng.... bảo đảm tính thống nhất, đồng thuận, phù hợp thực tiễn.

Nhiều đề xuất sửa đổi Luật Bảo hiểm Y tế

Phát biểu tại hội thảo, PGS.TS Nguyễn Trường Sơn - Thứ trưởng Bộ Y tế cho biết: BHYT là một chính sách an sinh từng lớp quan trọng của Đảng và nhà nước ta, là cơ chế tài chính trong lĩnh vực chăm nom sức khỏe, vì đích công bằng, hiệu quả và phát triển trong lĩnh vực chăm nom, bảo về sức khỏe quần chúng. #.

Được sự quan hoài chỉ đạo của Chính Phủ, các Bộ, Ngành, sự phối hợp trong công tác chỉ đạo, điều hành của chính quyền địa phương và núm của Bộ Y tế, tổ chức Bảo hiểm từng lớp, Luật BHYT và các văn bản quy phạm hướng dẫn Luật BHYT đã được tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả và đạt được những kết quả quan yếu.

Theo Thứ trưởng Nguyễn Trường Sơn, chất lượng khám chữa bệnh BHYT càng ngày càng cải thiện, người dân được tiếp cận dịch vụ kỹ thuật y tế hiện đại, nhiều thuốc mới, hiệu quả cao, giúp nhiều người vượt qua ốm đau và các căn bệnh hiểm nghèo. Quỹ BHYT đang trở thành nguồn tài chính căn bản phục vụ cho hoạt động của bệnh viện, trọng tâm y tế, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh. Chính sách BHYT đã bảo đảm nguyên tắc chia sẻ rủi ro giữa những người dự BHYT.

Tuy nhiên, thực tiễn quá trình thực hành Luật BHYT vẫn còn một số tồn tại, bất cập trong quy định và trong tổ chức thực hành Luật. Các văn bản chỉ dẫn còn thiếu cụ thể, thiếu đồng bộ với các văn bản quy phạm pháp luật khác, gây ra những khó khăn, vướng mắc trong công tác quản lý quốc gia cũng như tổ chức thực thi luật pháp. Công tác tổ chức thực hành còn hạn chế do năng lực, cơ sở vật chất, hàng ngũ viên chức chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn phát sinh.

Thứ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Trường Sơn phát biểu tại hội thảo.

Một số vấn đề trung tâm trong chính sách BHYT liên tục được nghiên cứu, đánh giá và có các giải pháp ăn nhập với thực tại như: phát triển đối tượng tham dự BHYT; quyền lợi của người tham dự BHYT; tổ chức khám chữa bệnh BHYT; phương thức thanh toán phí tổn KCB BHYT; công tác giám định; quản lý và dùng quỹ BHYT và các vấn đề liên can đến tổ chức và quản lý quốc gia về BHYT.

Để chuẩn bị cho một giai đoạn mới, với ý thức cầu thị, đánh giá, tổng kết thực tế, tổng hợp và luận giải các vấn đề vướng mắc, xem xét kinh nghiệm trên thế giới về BHYT, ngay sau khi Ban Chấp hành Trung ương có Nghị quyết số 20; ngày 22/5/2018, Bộ Y tế ban hành Kế hoạch số 453/KH-BYT xây dựng dự án Luật BHYT sửa đổi để báo cáo Chính phủ trình Quốc Hội ban hành Luật BHYT sửa đổi ăn nhập với tình hình mới. Tháng 12/2018, Bộ Y tế đã thành lập Ban soạn thảo để xây dựng dự án Luật BHYT sửa đổi. Trên cơ sở tổ chức dánh giá thực hành Luật BHYT tại một số địa phương, tổng hợp các bẩm tổng kết thực hành Luật BHYT thời kì qua của các địa phương, Bộ Y tế đã xây dựng thưa tổng kết 5 năm thực hiện Luật BHYT giai đoạn 2015-2019, song song cũng xây dựng dự thảo Luật BHYT sửa đổi để xin ý kiến rộng rãi.

Tại hội nghị lần này, các đại biểu sẽ tổng kết, đánh giá việc thực hiện Luật BHYT trên tất các phương diện: khám bệnh chữa bệnh, chuyển vận, tiếp cận tuyến, cơ chế tài chính, phân bổ quỹ, thanh quyết toán…; các nội dung liên tưởng khác như tồn tại hạn chế trong mở rộng lợi quyền, mất cân đối quỹ, giám định, vận hành hệ thống công tác giám định BHYT, công tác phối hợp của các bên liên can, một số vấn đề thực tiễn đang nảy tại các cơ sở khám chữa bệnh, địa phương...

song song sẽ cùng nhau bàn thảo về dự thảo Luật BHYT sửa đổi, thay thế Luật BHYT đang vận hành và cần phải điều chỉnh cho hợp với thực tiễn của nước ta, đảm bảo chính sách BHYT phục vụ người dân một cách công bằng, hiệu quả.

Theo các chuyên gia y tế, chính sách BHYT của nước ta phát triển qua nhiều thời đoạn với sự ra đời của Nghị định số 299/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng ngày 15/08/1992 ban hành Điều lệ BHYT. Năm 1998 là Nghị định số 58/1998/NĐ-CP, và năm 2005 là Nghị định số 63/2005/NĐ-CP. Sự đổi thay chính sách đáng để ý nhất đó là ngày 14/11/2008, Luật Bảo hiểm Y tế số 25/2008/QH12 được Quốc hội phê duyệt và có hiệu lực từ 1/7/2009. Luật BHYT ra đời đã tạo hố tiêu pháp lý quan yếu cho công tác BHYT, đặc biệt là việc thực hành mục tiêu BHYT toàn dân.

Ngày 13/6/2014, Quốc hội ban hành Luật số 46/2014/QH13 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật bảo hiểm Y tế năm 2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015. Đây là một bước tiến quan yếu trong quá trình xây dựng, hoàn thiện chính sách, luật pháp về BHYT và tác động tích cực đến quá trình tổ chức thực hiện chính sách BHYT.

Với định hướng thực hiện che chăm sóc sức khoẻ và BHYT toàn dân, mọi người dân đều được quản lý, chăm sóc sức khoẻ; được bảo đảm đồng đẳng về quyền và bổn phận trong tham dự BHYT và thụ hưởng các dịch vụ y tế, quyết nghị số 20 của Ban chấp hành trung ương ban hành ngày 25/10/2017 đã nêu rõ đích: Đến năm 2025: Tỷ lệ tham gia BHYT đạt 95% dân số. Tỷ lệ chi trực tiếp từ tiền túi của hộ gia đình cho y tế giảm còn 35%. Đến năm 2030: Tỷ lệ dự BHYT trên 95% dân số. Tỷ lệ chi trực tiếp từ tiền túi của hộ gia đình cho coi ngó y tế giảm còn 30%.

Chính phủ cũng cam kết đảm bảo các nguồn kinh phí đủ để đạt được các đích đề ra của chương trình.

Dương Hải

Phòng tránh ký sinh trùng lây truyền qua thực phẩm

Các loại ký sinh trùng lây nhiễm qua thực phẩm

Mầm bệnh ký sinh trùng trong thực phẩm gồm hai nhóm chính là đơn bào và giun sán. Chúng thường dưới dạng nang (cyst) hay nang ấu trùng. Các loại động vật có thể đóng vai trò là vật chủ phụ hoặc vật chủ chứa.

Đơn bào toxoplasma gondii: T. gondii ký sinh ở mèo và động vật họ Felidae. Các nang trứng (oocysts) thải ra phân mèo, các vật chủ trung gian tự nhiên (chim và động vật gặm nhấm) nhiễm phải nang trứng sẽ hình thành các nang trong mô, mèo ăn phải động vật này sẽ nhiễm T. gondii. Người có thể bị nhiễm bệnh khi ăn thịt nấu chưa chín. Ngoài ra, người cũng có thể nhiễm nang trứng ở ngoại cảnh hay qua truyền máu, ghép tạng, từ mẹ sang thai nhi. T. gondii tạo thành nang ở cơ vân, cơ tim, não và mắt. Người nhiễm T. gondii thường không có triệu chứng, tuy nhiên ký sinh trùng này có thể gây các thể bệnh hiểm ở người suy giảm miễn nhiễm hoặc lây truyền sang thai nhi gây thai chết lưu, tổn thương mắt, tâm thần nghiêm trọng cho thai.

Phòng tránh ký sinh trùng lây truyền qua thực phẩm Đường lây nhiễm sán từ động vật sang người.



Các loại giun

Giun xoắn (T. spiralis): Lan truyền giữa nhiều động vật ăn thịt. Giun trưởng thành ký sinh ở ruột, đẻ ra ấu trùng ra khỏi ruột và đi đến cơ. Khi vật chủ khác (có thể là người) ăn phải thịt nhiễm ấu trùng Trichinella, ấu trùng đến ruột và phát triển thành giun trưởng thành. Giai đoạn phát khởi với triệu chứng đau bụng, đi tả, buồn nôn, nôn, sốt... giống bị ngộ độc thức ăn. tuổi toàn phát ứng lúc ấu trùng vào máu, triệu chứng lâm sàng khá rầm rộ, đa dạng với các hội chứng nhiễm trùng nhiễm độc (sốt cao liên tục, kéo dài, trạng thái lơ mơ...), hội chứng dị ứng quá mẫn nặng (phù nề mí mắt, mặt, các chi hoặc toàn thân, phát ban, nổi mề đay). Khi ấu trùng đến cơ sốt giảm dần, bệnh nhân có cảm giác đau cơ, hạn chế vận động... Tại Việt Nam bệnh giun xoắn lây truyền ở nhiều vùng núi Tây Bắc. Cuối năm 2017 có bệnh nhân tại Lai Châu bị nhiễm giun xoắn sau khi ăn thịt lợn ốm đã tử vong khi được chuyển về Bệnh viện nhiệt đới trung ương.

Giun đầu gai (Gnathostoma sp.): Người nhiễm sau khi ăn thịt lợn, ếch, gà, vịt, lươn, rắn.. có nang ấu trùng còn sống. Triệu chứng lâm sàng xuất hiện ngay sau khi nhiễm ấu trùng, ấu trùng chui qua các tổ chức trong bụng, ngực gây đau thượng vị, buồn nôn, nôn, ngứa, nổi mày đay, sốt nhẹ, tăng bạch huyết cầu ái toan. Khi ấu trùng chuyển di đến mô dưới da gây tổn thương phù, đỏ, ngứa thường ở ngực, bụng, hoặc chi. Đôi khi ấu trùng trong mắt (gây tổn thương thể thủy tinh, giác mạc, giảm hoặc mất nhãn quang), hệ thần kinh (gây ra nhức đầu, hôn mê, đột quỵ, liệt). Gnathostoma phổ biến ở Nhật Bản và Đông Nam Á (Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Thái Lan và Việt Nam). Một nghiên cứu thấy 74% lươn tại các chợ ở Bangkok chứa ấu trùng Gnathostoma. Tại Việt Nam số ca nhiễm Gnathostoma chiếm khoảng 4-6% tổng số bệnh nhân nhiễm ký sinh trùng đến khám và điều trị tại Bệnh viện nhiệt đới tỉnh thành Hồ Chí Minh, Bệnh viện Chợ Rẫy và Viện Sốt rét ký sinh trùng – sâu bọ Quy Nhơn.

Capillaria philippinensis: Là loại giun ký sinh ở người và chim, lây truyền qua ăn cá có ấu trùng. Ở người, giun cái trưởng thành có thể đẻ ra trứng, trứng nở thành ấu trùng và phát triển thành giun trưởng thành dẫn đến người có rất nhiều giun trong khi chỉ nhiễm ít ấu trùng. Sau thời đoạn ủ bệnh khoảng 3 tuần, xuất hiện đau bụng, ỉa chảy nặng dần, mất nước, sụt cân, giảm áp huyết, tử vong… Ở Việt Nam có ít thông tin bệnh này, tuy nhiên nghiên cứu trên cá nhệch “Pisodonophis” ở Nam Định đã phát hiện nhiễm Capillaria, đây là loại cá thường được dùng để ăn gỏi.

Các loài sán lá

Sán lá gan nhỏ: Ở Việt Nam lưu hành Clonorchis sinensis ở miền Bắc và Opisthorchis viverrini ở miền Trung. Sán ký sinh ở người hoặc một số động vật như chó, mèo… Người nhiễm khi ăn phải cá có ấu trùng còn sống. Sán ký sinh ở đường mật trong gan và gây viêm, tăng sản, tắc nghẽn đường mật, có thể gây ung thư đường mật. Thái Lan là một trong những nước có tỷ lệ ung thư gan cao nhất thế giới, nguyên do được cho là nước này có tỷ lệ nhiễm sán Opisthorchis viverrini cao.

Sán lá ruột nhỏ: Có nhiều loài, lây truyền qua cá và thường lưu hành cùng với sán lá gan nhỏ. Các triệu chứng lâm sàng thường nhẹ và thoáng qua, đau bụng, đi tả, chán ăn và giảm cân. Một số trường hợp trứng sán vào máu và hệ thống mạch bạch huyết đến nhiều vị trí khác nhau trong thân thể, đặc biệt là tim, não hoặc tủy sống, thỉnh thoảng gây tử vong. Tại miền Bắc Việt Nam nhiều loài cá nước ngọt dùng để ăn gỏi cá có tỷ lệ nhiễm nang ấu trùng sán lá ruột nhỏ cao.

Paragonimus (sán lá phổi): Người nhiễm khi ăn tôm, cua có nang ấu trùng còn sống. Một số động vật có vú khác (như lợn rừng) ăn cua có ấu trùng, Paragonimus không thể phát triển thành sán trưởng thành nhưng ấu trùng di chuyển đến các cơ và hình thành nang ấu trùng. Người ăn thịt động vật này còn sống cũng có thể nhiễm sán. Sán thường ký sinh ở phổi tuy nhiên có thể lạc chỗ đến nhiều vị trí khác nhau như não. biểu thị sớm là các rối loạn tiêu hóa (đi tả, đau bụng), sốt sau đó là các biểu lộ ở phổi như đau ngực, ho ra máu kéo dài, dễ bị chẩn đoán nhầm là lao hay ung thư phổi. Tại Việt Nam sán lưu hành ở nhiều tỉnh miền núi phía Bắc như Lai Châu, Sơn La, Hòa Bình, Lào Cai, Yên Bái, Hà Giang, Lạng Sơn, Nghệ An; có nơi tỷ lệ nhiễm tới 15% (Sơn La).

sán xơ mít: sán xơ mít lợn (Taenia solium), sán xơ mít bò (Taenia saginata), sán xơ mít châu Á (Taenia asiatica). Người nhiễm các loại sán này khi ăn thịt lợn, thịt bò có ấu trùng còn sống. Sán trưởng thành ký sinh ở ruột thường gây đau bụng, rối loạn tiêu hóa. Các đốt sán dây bò có thể tự bò ra ngoài gây cảm giác ghê sợ. Người mắc sán dây lợn trưởng thành có thể tự nhiễm và mắc ấu trùng, ấu trùng đến não gây ra nhức đầu, động kinh, đến mắt gây giảm nhãn lực… Tại Việt Nam bệnh sán dây lưu hành ở nhiều nơi.

buồng truyền nhiễm ký sinh trùng từ thực phẩm

Phòng chống hiệu quả nhất bằng cách phối hợp nhiều biện pháp khác nhau. Có nhiều tiếp cận khác nhau như Phòng chống bệnh cho vật nuôi, kiểm soát thực phẩm. Cải thiện thực hiện nuôi lợn và trực tính thẩm tra tại lò mổ đã làm giảm tỷ lệ mắc giun xoắn ở Mỹ. Tuy nhiên có nhiều mầm bệnh lưu hành ở động vật hoang dại không thể kiểm soát được, mặt khác các xét nghiệm phát hiện mầm bệnh trong thịt thường có độ nhạy thấp và cũng chẳng thể thực hiện với bít tất các loại mầm bệnh và các loại thịt, cá. Các biện pháp chế biến thịt, cá như ướp muối, hun khói, ngâm dấm… thường không hiệu quả.

Phòng tránh ký sinh trùng lây truyền qua thực phẩm Bảo quản thịt ở nhiệt độ -10 độ C trong 10 ngày có thể làm bất hoạt nang ấu trùng sán dây .

Nhiệt độ cao vẫn là biện pháp đáng tin tức nhất, vì hầu hết các ký sinh trùng sẽ bị giết chết hoặc không hoạt động ở nhiệt độ 60°C, tuy nhiên, nhiệt phải xâm nhập tuốt khối thịt, cá. Đông lạnh ở nhiệt độ và thời gian quy định có thể bất hoạt nhiều đơn bào và giun sán. tỉ dụ để thịt ở nhiệt độ -10 ° C trong chí ít 10 ngày có thể làm bất hoạt nang ấu trùng sán dây trong thịt lợn.

Các công nghệ mới như ozon, oxy hóa, chiếu xạ liều thấp, áp suất thủy tĩnh… cũng có thể làm bất hoạt nhiều ký sinh trùng thực phẩm, hiệu quả phụ thuộc vào ký sinh trùng, Giai đoạn của ký sinh trùng và đặc điểm của thực phẩm.

TS. BS. Lê Trần Anh

Bài thuốc chữa chứng mề đay

Nếu nổi thành từng quầng đỏ thì gọi là ban; nếu mọc thành từng nốt lấm chấm thời gọi là chẩn. nguyên do gây bệnh do thời tiết nóng lạnh bất thường, ăn uống phải những chất mà thân thể nhạy cảm, do ký sinh trùng... làm xuất hiện những nốt ban, ngứa, đỏ da hoặc phù tại chỗ.

Bệnh chia làm 2 thể: phong hàn, phong nhiệt. Phương pháp điều trị là giải dị ứng, chống sung huyết, chống giãn mạch và các rối loạn thực vật: phù dị ứng, táo bón, ỉa chảy, bí tiểu tiện... Sau đây là một số bài thuốc trị bệnh:

Thể phong hàn: hay gặp dị ứng nổi ban do lạnh, do nước lã. Người bệnh có triệu chứng: da hơi đỏ hoặc sắc trắng, gặp lạnh hay phát bệnh, trời nóng bệnh giảm, rêu lưỡi trắng, mạch phù khẩn. Phương pháp chữa là tán phong hàn, điều hòa dinh vệ. Dùng bài thuốc:

Bài 1: quế chi 8g, tía tô 12g, kinh giới 16g, phòng phong 12g, gừng sống 6g, ké đầu ngựa 16g, ý dĩ 16g, đan sâm 12g, bạch chỉ 8g. Sắc uống.

Bài 2 - Quế chi thang gia giảm: quế chi 8g, bạch thược 12g, gừng sống 9g, ma hoàng 6g, tía tô 12g, kinh giới 12g, phòng phong 8g, tế tân 6g, bạch chỉ 8g. Sắc uống.

Bài 3 - Hoàng kỳ kiến trung thang gia giảm: hoàng kỳ 8g, quế chi 8g, bạch thược 8g, sinh khương 8g, đại táo 12g, đảng sâm 12g, kinh giới 12g, phòng phong 12g, bạch chỉ 8g, ma hoàng 6g. Sắc uống. Nếu táo bón, thêm đại hoàng 6g; nếu do ăn uống (cua, tôm...), thêm sơn tra, thần khúc, hoắc hương mỗi thứ 8 - 12g.

chứng mề đay Mề đay y khoa Nguyên nhân do thời tiết nóng lạnh thất thường, ăn uống phải những chất mà cơ thể nhạy cảm, do ký sinh trùng...

Thể phong nhiệt:

Người bệnh có triệu chứng: da đỏ, các nốt ban đỏ, nóng rát, miệng khát, phiền táo. Gặp gió nóng, bệnh phát ra hoặc tăng thêm; mạch phù sác; chất lưỡi đỏ, rêu vàng hoặc trắng. Phương pháp chữa là khu phong, thanh nhiệt lương huyết. Dùng bài thuốc:

Bài 1 - Ngân kiều tán gia giảm: kim ngân 16g, liên kiều 12g, ngưu bàng tử 12g, lô căn 12g, trúc diệp 12g, kinh giới 12g, cam thảo 4g, bạc hà 12g, ké đầu ngựa 16g, xa tiền tử 12g, phù bình 8g. Sắc uống.

Bài 2 - Tiêu phong tán gia giảm: kinh giới 16g, phòng phong 12g, ngưu bàng tử 12g, thuyền thoái 8g, sinh địa 16g, thạch cao 20g, đan bì 8g, bạch thược 8g. Sắc uống. Sắc uống.

Bài 3 - Hóa ban thang: thạch cao 30g, cam thảo 10g, sừng trâu 24g, tri mẫu 16g, huyền sâm 12g, ngạnh mễ 1 chén. Sắc uống.

phối hợp châm cứu (châm tả) hoặc day các huyệt: huyết hải, khúc trì, đại chùy, tam âm giao. Nếu do ăn uống thì thêm túc tam lý.

Vị trí huyệt:

- Huyết hải: mặt trước trong đùi, từ xương bánh chè đầu gối đo lên 2 tấc, huyệt nằm trong khe lõm giữa cơ may và cơ rộng trong, ấn vào có cảm giác ê tức.

- Khúc trì: co khuỷ tay vào ngực, huyệt ở đầu lằn chỉ nếp gấp khuỷ, nơi bám của cơ ngửa dài, cơ quay 1, cơ ngửa ngắn khớp khủy.

- Đại chùy: ngồi thẳng, hơi cúi đầu xuống một ít, phần dưới cổ nổi lên từ 1-3 u xương tròn, đặt lên mỗi u xương 1 ngón tay rồi quay đầu hỗ tương về bên phải, bên trái, cúi ngửa, u xương nào cao nhất động đậy dưới ngón tay nhiều là đốt sống cổ 7, huyệt ở chỗ lõm ngay dưới đầu mỏm gai của đốt này.

- Tam âm giao: ở sát bờ sau - trong xương chày, bờ trước cơ gấp dài các ngón chân và cơ ống quyển sau, từ đỉnh cao của mắt cá chân trong đo lên 3 tấc.

- Túc tam lý: úp lòng bàn tay vào giữa đầu gối, đầu ngón tay giữa chạm vào xương cẳng chân (xương chày), từ đó đo ra 1 tấc là huyệt.

BS. Tiểu Lan

Phân biệt trà thật, trà giả

Kinh nghiệm phân biệt trà giả: Trà làm giả thường là trà có lẫn búp sim, búp ổi. Búp trà thường nhỏ, dài, xoắn chặt. Búp ổi, búp sim thì to mập hơn, lá dày hơn. Vị trà chát dịu, có dư vị ngọt sau uống. Búp sim, búp ổi có vị đắng, hăng và không để lại dư vị ngọt ở cổ. Búp sim, búp ổi cũng chứa hợp chất tanin gây vị chát nhưng cấu tạo hóa học của loại tanin này khác với tanin trà. Hơn nữa, búp sim, búp ổi hoàn toàn không có các chất quý khác có ở trà để gây cảm giác ngọt nhạt ưa cho người thưởng thức.

Phân biệt trà thật, trà giả

Khi chọn trà, nên xem kỹ búp trà có nhỏ đều không. Nhấm thử vài cánh, nếu thấy vị chát quá gắt, đắng, cảm giác hăng hăng hơi gây ở cổ thì cần cảnh giác. Có điều kiện nên pha thử một ấm. Bạn sẽ dễ dàng phát hiện trà thật, trà giả vì trong nước sôi, các búp lá nở to ra và sẽ hiện nguyên hình. Chú ý quan sát sẽ thấy: lá trà thường mỏng, bóng, gân lá nhỏ, còn lá ổi, lá sim thường dày, thô, gân lá nổi to, rõ ràng.

Trà giả còn có dạng pha trộn bã trà cũ sấy khô. Loại này tuy vẫn là trà nhưng chỉ còn cái xác. Trà khi đã hãm với nước sôi, các chất trong lá trà tan ra hết thì bã chỉ còn lại xen-luy-lô. Trà trộn với bã cũ thường nhẹ, cánh trà không xoăn chặt. Nhấm thử vài cánh có vị nồng, ít chát. Pha thử một ấm với lượng thường nhật thấy nước rất nhạt, hơi nồng và không có dư vị, ít thơm là đúng trà trộn lẫn bã cũ. ngoại giả còn một kinh nghiệm là trà trộn bã cũ pha lại rất nát chứ không như bã trà pha lần đầu.

Hãm trà đúng điệu: Trà hãm đúng cách mới có nước trà tốt, uống thơm và bổ. Nước pha trà phải thật sôi đến 1000C, nhưng không được sôi lâu quá vì sôi lâu nước pha trà sẽ bị nhạt. Trước khi bỏ trà vào, ấm phải được tráng nước sôi. Hãm trà trong vòng 3-5 phút, tùy theo khẩu vị. Lắc đều trà trong ấm rồi rót hết nước ra. Không nên hãm trà quá 5 phút vì qua thời gian này, cafein không tăng thêm mà trà chỉ tiết thêm chất tanin gây vị chát nhiều hơn, uống mất ngon và trà có màu sẫm.

Ngọc Bội